Nguyễn Thượng Hiền – Poems written for friends

XBOJbbc12_ODIQ.jpg.ashx

Nguyễn Thượng Hiền (阮尚賢, 1868-1925), courtesy name (字, tự) Đỉnh Thần (鼎臣), traveled extensively through East Asia and made acquaintance with like-minded revolutionaries in Japan, Korea, and China. Along his travels, he corresponded with both his Vietnamese and non-Vietnamese friends through classical Chinese poetry, which, at the time, was still a shared written lingua franca across China, Vietnam, Korea, and Japan.  As a part of this continuing series of translations from his poetry, this post presents several of these poems written for his friends.

 

寄都中諸友

南望浮雲接塞生
春風腸斷越歌聲
五陵知識今誰在
斜日煙花滿舊京

Ký đô trung chư hữu

Nam vọng phù vân tiếp tái sinh
Xuân phong trường đoạn Việt ca thanh
Ngũ lăng tri thức kim thùy tại
Tà nhật yên hoa mãn cựu kinh

Sent to all my friends in the capital

Gazing south, billowing clouds stretch along the frontier
In the spring wind, my heart breaks at the sound of a Việt song
At the Five Tombs, who are left of my acquaintances?
In the setting sun, mist and flowers cover the old capital

陪阮孟孝將軍遊粵東能仁寺

英雄不為一身謀
寶劍雙磨復國讎
遊到淨堂專論殺
山僧不語衹搖頭

Bồi Nguyễn Mạnh Hiếu tướng quân du Việt Đông Năng Nhân tự

Anh hùng bất vị nhất thân mưu
Bảo kiếm song ma phục quốc thù
Du đáo tịnh đường chuyên luận sát
Sơn tăng bất ngữ chỉ dao đầu

Accompanying general Nguyễn Mạnh Hiếu visiting the Năng Nhân temple in Yuedong

A hero does not think only for himself
Together, let us sharpen our swords and avenge the country
Arriving in this pure hall, we discuss killing
The mountain monk is silent, only shaking his head

東海贈章太炎先生

煙濤萬里一虛舟
島國相逢話壯遊
醉把奇書燈下讀
滿天風雨入西樓

Đông Hải tặng Chương Thái Viêm tiên sinh

Yên đào vạn lý nhất hư chu
Đảo quốc tương phùng thoại tráng du
Túy bả kỳ thư đăng hạ độc
Mãn thiên phong vũ nhập tây lâu

On the Eastern sea, given to master Chang Taiyan

Across ten-thousand miles of mists and waves, a single empty boat has floated
Meeting on this island nation, we tell tales of our heroic distant travels
Drunk, we read strange books under the lamp
Wind and rain fill the sky, entering the west tower

柬晉中諸友

虜運潮終落
人心火始燃
居行皆許國
興廢不關天
朔角臨邊月
南車指塞煙
何當引長篲
萬里掃腥羶

Giản Tấn trung chư hữu

Lỗ vận trào chung lạc
Nhân tâm hoả thuỷ nhiên
Cư hành giai hứa quốc
Hưng phế bất quan thiên
Sóc giác lâm biên nguyệt
Nam xa chỉ tái yên
Hà đương dẫn trường tuệ
Vạn lý tảo tinh thiên

Sent to all my friends in Chin

The barbarian’s fortunes are like the receding tide
The people’s hearts are like a first just kindled
Coming and going, all is to serve the country
Rising and falling does not depend on Heaven
The borderland moon shines down on the north
The southern carriage is directed towards the frontier mists
When will I be able to take a long broom
And wipe clean the stench of these beasts across ten-thousand miles

Notes:

– Sent to all my friends in the capital (寄都中諸友, Ký đô trung chư hữu), this poems was most likely written when the author was somewhere in China. The capital most likely refers to the the city of Huế (順化, Thuận Hóa), the capital of the Nguyễn dynasty.

-Five Tombs (五陵, Ngũ lăng) refers to the tombs of the Han emperors in China, but here is used to refer to the imperial city of Vietnam

-Nguyễn Thiện Thuật (阮善述, ?-?), courtesy name (字, tự) Mạnh Hiếu (孟孝) was a native of Hải Dương province (海陽省, Hải Dương tỉnh). He led military campaign against the French for over a decade before fleeing to China after his forces began to weaken.

– master Taiyan (太炎先生, Thái Viêm tiên sinh) was a pen-name (號. hiệu) of Chương Bỉnh Lân (章炳麟, 1868-1936, courtesy name (字, tự )Mai Thúc (枚叔) , a Chinese revolutionary and philosopher.

-island nation (島國, Đảo quốc) refers to Japan, where this poem was written

– Chin (晉, Tấn) refers to modern day Shan-hsi province (山西省, Sơn Tây tỉnh) in northern China

-This poem refers to the author’s plans to take advantage of France’s involvement in the first World War to launch a military strike against them in northern Vietnam. It is possible that it was written late in 1915.

-The illustration is of martial officers and soldiers of the Nguyễn dynasty

-These poems have been translated into Vietnamese by the scholar and professor Lê Thước (黎鑠, 1891-1975), pen-name (號. hiệu) Tĩnh Lạc (靜樂):

Gửi các bạn trong kinh đô

Trời Nam mây nổi ải mơ màng
Ca Việt xuân đưa luống đoạn tràng
Quen biết năm lăng còn mấy kẻ
Kinh xưa phong cảnh bóng tà dương

Cùng tướng quân Nguyễn Mạnh Hiếu chơi chùa Năng Nhân tỉnh Việt Đông

Anh hùng nào phải vị mình đâu
Nợ nước mài gươm quyết trả thù
Tới trước Phật đường bàn chém giết
Sư ông chẳng nói chỉ lay đầu

Tặng Chương Thái Viêm tiên sinh khi ở Đông Hải

Chiếc thuyền muôn dặm sóng tung bay
Đảo quốc cùng nhau kể chuyện hay
Say ghé bên đèn xem sách lạ
Đầy trời mưa gió ngập lầu tây

Gửi các bạn trong đất Tấn

Vận giặc nước đang xuống
Lòng dân lửa mới mồi
Đi ở đều vì nước
Nên hư chẳng tại trời
Cõi bắc bên trăng vẳng
Xe nam rẽ khói bay
Ước sao cầm chổi dài
Quét sạch giống tanh hôi

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

The Aquinas Institute

For the Study of Sacred Doctrine

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Sensus Traditionis

A Website Dedicated to the Sacred Tradition of the Roman Catholic Church

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

henry darragh's blog

tell her for me

Tương Mai Cư Sĩ

Non non nước nước tình tình

The Sacred at Park Place

Bringing Catholic sacred tradition to the neighborhood at Park Place Blvd.

歸源 (Kuiwon)

Classical Chinese Works Written by Korean Authors Translated - 한시•한문 영역 - 漢詩•漢文 英譯

%d bloggers like this: