Archive

Monthly Archives: February 2015

thầy hưng

Từ (詞) là một loại thi ca cổ điển. Thoạt đầu chỉ là lời hát để phối hợp với âm nhạc cho các ca nhi hát xướng trong buổi yến tiệc, v.v. Về sau, trở thành một thể thơ đường đường chính chính mang phong cách văn vẻ bác học. Từ còn có thể gọi là: khúc (曲), ca khúc (歌曲), khúc tử từ (曲子詞), trường đoản cú (長短句), hoặc thi dư (詩餘). Từ thịnh vào đời Tống (bởi thế người ta hay nói: “Đường thi Tống từ” 唐詩宋詞), suy vào đời Minh, tái hưng vào đời Thanh. Đến thời cận đại, vẫn có một số người làm từ, trong đó có cả ông Mao Trạch Đông (毛澤東 , 1893-1976). Ở nước ta, từ cũng đã có từ lâu. Triều Đinh, có Khuông Việt thiền sư (匡越禪師 , 933-1011), tục danh Ngô Chân Lưu (吳真流). Khi tiễn sứ thần Lý Giác (李覺 ?-?) nhà Tống về nước, thiền sư làm một bài từ theo điệu Nguyễn lang quy (阮郎歸). Sau đó, Lê mạt văn sĩ Phạm Thái (范泰 , 1777-1813), trong truyện Sơ Kính Tân Trang (梳鏡新裝), có viết vài bài từ bằng tiếng Việt. Triều Nguyễn có Tùng Thiện vương (從善王 , 1819-1870) nổi tiếng làm từ tuyệt diệu và cụ Đào Tấn (陶晉 , 1845-1907), nhà viết tuồng cũng rất giỏi từ. Đến tiền bán thế kỷ XX, những kẻ đọc sách vẫn thích làm từ, trên báo Nam Phong Tạp Chí (南風雜誌) có đăng từ của vài người. Bản thân tôi cũng rất yêu đọc, viết, và dịch từ; thậm chí hơn cả thơ Đường vậy.

Vừa rồi, thừa nhàn, tôi bái kiến thầy tôi là cụ Đàm Quang Hưng (譚光興), và cùng ngài dịch vài bài từ của ông Nạp Lan Tính Đức (納蘭性德 , 1655-1685), tự Dung Nhược (容若), một từ nhân nổi tiếng đời Thanh. Thầy trò chúng tôi dịch sang tiếng Việt vẫn giữ câu ngắn dài, số chữ, vần bằng trắc, v.v. của nguyên văn Hán văn nên gọi là dịch “nguyên điệu” (mỗi điệu từ được quy định nghiêm cách số chữ, câu ngắn dài, vần bằng trắc, v.v.) Riêng hai bài Bồ tát man và Thanh bình lạc đã được Châu Hải Đường tiên sinh phủ chính vài chữ.

夢江南

昏鴉盡,
小立恨因誰 ?
急雪乍翻香閣絮,
輕風吹到膽瓶梅,
心字已成灰。

Mộng Giang Nam

Hôn nha tận,
Tiểu lập hận nhân thùy?
Cấp tuyết sạ phiên hương các nhứ,
Khinh phong xuy đáo đảm bình mai,
Tâm tự dĩ thành hôi.

điệu Mộng Giang Nam

Đàn quạ khuất,
Chiều đứng hận vì ai?
Dồn dập tuyết rơi che gác kín
Hắt hiu gió thoảng thổi bình mai
Hương thắp đã tro rồi.

菩薩蠻

蕭蕭幾葉風兼雨,
離人偏識長更苦。
欹枕數秋天,
蟾蜍下早弦。

夜寒驚被薄,
淚與燈花落。
無處不傷心,
輕塵在玉琴。

Bồ tát man

Tiêu tiêu kỷ diệp phong kiêm vũ
Ly nhân thiên thức trường canh khổ
Khi chẩm sổ thu thiên
Thiềm thừ hạ tảo huyền

Dạ hàn kinh bị bạc
Lệ dữ đăng hoa lạc
Vô xứ bất thương tâm
Khinh trần tại ngọc cầm

điệu Bồ tát man

Xác xơ mấy lá mưa cùng gió
Canh dài khổ muộn người xa rõ
Tựa gối đếm ngày trôi
Trăng thu đầu tháng soi

Chăn đơn ghê tối rét
Lệ nhỏ đèn leo lét
Đâu chẳng chốn thương tâm
Bụi mờ phủ ngọc cầm

清平樂

風鬟雨鬢,
偏是來無准。
倦倚玉蘭看月暈,
容易語低香近。

軟風吹過窗紗,
心期便隔天涯。
從此傷春傷別,
黃昏只對梨花。

Thanh bình lạc

Phong hoàn vũ tấn,
Thiên thị lai vô chuẩn.
Quyện ỷ ngọc lan khan nguyệt vựng
Dung dị ngữ đê hương cận.

Nhuyễn phong xuy quá song sa,
Tâm kỳ tiện cách thiên nha.
Tòng thử thương xuân thương biệt,
Hoàng hôn chỉ đối lê hoa.

điệu Thanh bình lạc

Tóc pha mưa gió
Lê bước còn đây đó
Mỏi tựa lan can vầng nguyệt tỏ
Hương ngát thì thầm to nhỏ

Gió ấm nhẹ thoảng song sa
Tương tư vẫn cách trời xa
Từ đó thương xuân thương biệt
Hoàng hôn chỉ ngắm lê hoa

Advertisements

Cao Tieu

Recently,during one of my weekly visits to my teacher’s house, I noticed a collection of poetry entitled “Selected Poetry of Cao Tiêu” (高蕭詩選 , Cao Tiêu thi tuyển) on his bookshelf. I inquired about the book and my teacher, professor Đàm Quang Hưng (譚光興 , 1930- ) explained that the author of the collection, Hoàng Ngọc Tiêu (黃玉蕭 , 1929-2012) was a good friend of his and had given him this book before passing away only a few years ago. I asked permission to borrow the book and respectfully read the poetry of this man from my grandparent’s generation.

Hoàng Ngọc Tiêu (黃玉蕭 , 1929-2012) was born on 16 January 1929 in the village of Dưỡng Thông (養通), in the district of Kiến Xương (建昌縣 , Kiến Xương huyện) of Thái Bình province (太平省) in northern Vietnam. He went by the pen-name (號 , hiệu) Cao Tiêu (高蕭) and was a friend of the famous modern poet Vũ Hoàng Chương (武煌章 , 1916-1976). He served as a colonel in the South Vietnamese army before seeking refuge in the United States after the Communist victory in 1975. He passed away in southern California on 14 February 2012. His poetry collection, “Selected Poetry of Cao Tiêu” (高蕭詩選 , Cao Tiêu thi tuyển) consists of his classical Chinese poetry which he also rendered into Vietnamese poetic translations. The poems in this collection date from during the Vietnam War before 1975 and also after 1975.

念母

我生逢亂世
投筆著征衣
辭家執母手
母餞在柴扉
欲行難去步
母子淚同垂
戰陣南至北
安危無限期
別母音書斷
母歿信來遲
離國頭已白
半紀未回歸
天涯仰雲月
憶母不勝悲
寸草心難報
念母雙淚垂

Niệm mẫu

Ngã sinh phùng loạn thế
Đầu bút trước chinh y
Từ gia chấp mẫu thủ
Mẫu tiễn tại sài phi
Dục hành nan khứ bộ
Mẫu tử lệ đồng thùy
Chiến trận nam chí bắc
An nguy vô hạn kỳ
Biệt mẫu âm thư đoạn
Mẫu một tín lai trì
Ly quốc đầu dĩ bạch
Bán kỷ vị hồi quy
Thiên nha ngưỡng vân nguyệt
Ức mẫu bất thăng bi
Thốn thảo tâm nan báo
Niệm mẫu song lệ thùy

Thinking of my mother

I was born in a time of chaos
Casting aside my brush, I donned battle garments
Parting with my family, I held my mother’s hands
My mother bade farewell beside the log gate
I wished to depart but could not move
Mother and son together shed tears
Battles led me south to north
Safety and danger were undetermined
After parting from my mother, letters were cut-off
When she passed, the news arrived late
When I left the country my head was already white
For half a century I have not returned
At the edge of the sky I gaze at the clouds and moon
Missing my mother I cannot overcome sadness
My heart, like a blade of grass, cannot repay my debt
Thinking of my mother, tears fall

Notes:

-“Casting aside my brush” (投筆 , Đầu bút) is an expression used to describe a scholar abandoning his studies to enter the military (投筆從戎 , đầu bút tòng nhung)

-“log gate” (柴扉 , sài phi) is an expression used to describe the dwelling of a poor family

-“half a century” (半紀 , bán kỷ) is an abbreviation of 半世紀 (bán thế kỷ), which is less ambiguous, given that 半紀 traditionally means six years

-“blade of grass” is a reference to the extremely famous poem “Song of a traveler” (游子吟 , Du tử ngâm) by Meng Chiao (孟郊 , 751-814): “Who says that a heart like a blade of grass, can repay the debt of three months of spring’s sunlight” (誰言寸草心,報得三春暉。Thùy ngôn thốn thảo tâm, báo đắc tam xuân huy).

-The author translated this poem into Vietnamese:

Con sinh gặp phải thời loạn lạc
Bỏ sách đèn để khoác chiến y
Ngày lìa nhà, Mẹ tiễn đi
Con cầm tay Mẹ tái tê lòng sầu
Mẹ đưa con ra đầu cổng ngõ
Bước dùng dằng con khó rời chân
Mắt con mắt Mẹ lệ đầm
Giữa khi Nam Bắc ầm ầm sung ran
Lúc trận mạc nguy nan nào xiết
Trông thư càng biền biệt âm hao
Trong khi Mẹ mất từ lâu
Hung tin đến muộn con đâu có ngờ!
Rồi xa nước, tóc giờ đã trắng
Năm mươi năm con chẳng về nhà
Phương trời vọng bóng trăng xa
Niềm thương nhớ Mẹ thiết tha bồn chồn
Lòng tấc cỏ chưa tròn báo đáp
Vò ruột gan gió táp từng cơn
Cúi đầu khấn Mẹ lệ tuôn

30-4-2000

liaozhai

Gia Bình công tử

tác giả: Bồ Tùng Linh (蒲松龄 , 1640-1715)
dịch giả: Nguyễn Tử Hạ

Gia Bình Mỗ công tử, phong độ tú mỹ. Tuổi trạc mười bảy mười tám, vào quận thi khoa đồng tử. Ngẫu nhiên qua cửa nhà hát mụ Hứa, thấy bên trong có người đẹp tuổi trạc đôi tám. Nhân để mắt nhìn. Nữ lang mỉm cười gật đầu, công tử kéo gần trò chuyện. Nữ lang hỏi: “Ở trọ nơi đâu?” Công tử kể cho nàng nghe. Hỏi: “Trong nhà có người chăng?” Rằng: “Không”. Nữ lang nói: “Thiếp chiều nay kính thăm, chớ cho ai hay.” Công tử về, đến tối, đuổi đi đầy tớ. Nữ lang quả nhiên đến, kể rằng: “Tiểu tự Ôn Cơ”, lại nói, “Thiếp ngưỡng mộ công tử phong lưu, nên giấu mụ mà đến. Chút ý hèn mọn, xin được hầu hạ chàng suốt đời.” Công tử cũng mừng. Từ đó hai ba đêm thường đến một lần. Một hôm, dầm mưa đến, vào cửa cởi bỏ áo ướt, treo áo lên mắc, lại cởi giầy nhỏ trên chân, xin công tử lau sạch bùn lầy. Bèn lên giường lấy chăn trùm mình. Công tử thấy giầy nàng, làm bằng gấm ngũ văn mới, ướt dẫm hết cả, tiếc của. Nữ lang rằng: “Thiếp chẳng dám lấy việc hèn mà sai chàng, chỉ muốn cho công tử biết thiếp si tình đến đâu vậy.” Nghe ngoài song tiếng mưa chẳng ngớt, bèn ngâm rằng: “Gió buồn mưa lạnh khắp giang thành”, xin công tử đọc nối. Công tử từ chối lấy cớ không hiểu thơ. Nữ lang rằng: “Công tử một người như thế, cớ sao chẳng biết phong nhã! Làm thiếp mất thanh hứng rồi!” Nhân khuyên học tập, công tử nghe lời. Đi đi lại lại, đầy tớ đều biết. Anh rể công tử họ Tống, cũng con thế gia, nghe chuyện, lén xin công tử cho gặp Ôn Cơ một lần. Công tử hỏi ý nàng, nữ lang nhất định không chịu. Họ Tống ẩn mình trong nhà đầy tớ, đợi nữ lang đến, nấp bên song nhìn trộm, điên đảo muốn cuồng. Vội đẩy cửa vào, nữ lang trỗi dậy, trèo tường mà đi. Họ Tống mến mộ nồng hậu, bèn sửa lễ vật gặp mụ Hứa, lấy tên tìm nàng. Mụ rằng: “Quả thật có Ôn Cơ, nhưng chết đã lâu.” Họ Tống ngạc nhiên lui, bảo công tử, công tử mới hay nàng là ma. Đến đêm, nhân lấy lời họ Tống hỏi nữ lang. Nữ lang rằng: “Đúng vậy. Thấy chàng muốn được người vợ đẹp, thiếp cũng muốn được người chồng đẹp. Ai nấy rồi thì được như nguyện vậy, luận chi người hay ma?” Công tử lấy làm phải. Thi xong rồi về, nữ lang cũng theo chàng. Người khác chẳng thấy, duy công tử thấy nàng. Đến nhà, gửi trong buồng học. Công tử ở đó ngủ một mình không về, phụ mẫu thấy nghi. Nữ lang quy ninh, mới giấu mà nói mẹ, mẹ cả sợ, răn công tử tuyệt tình, công tử không chịu nghe. Phụ mẫu rất lấy làm lo. Trăm thuật trừ ma không thể đuổi. Một ngày, công tử có giấy dặn đầy tớ, đặt trên bàn, trong đó nhiều chữ sai: chữ “tiêu” nhầm chữ “thục”, chữ “khương” nhầm chữ “giang”, “khả hận” viết nhầm “khả lãng”. Nữ lang thấy giấy, viết trên mặt sau: “Việc chi khả lãng? Hoa thục sinh giang. Có chồng như thế, chẳng bằng đi hát.” Bèn bảo công tử rằng: “Thiếp ban đầu tưởng công tử là thế gia văn nhân, nên quên thẹn tự dâng mình. Chẳng ngờ trong đầu rỗng tuếch. Trông mặt chọn người, chẳng phải làm thiên hạ cười ru?” Nói xong rồi biến. Công tử tuy vừa thẹn vừa giận, vẫn chưa hiểu câu nàng đề, đưa giấy cho đầy tớ. Kẻ nghe được chuyện kể lại mà nói cười.

嘉平公子

嘉平某公子,風儀秀美。年十七八,入郡赴童子試。偶過許娼之門,見內有二八麗人,因目注之。女微笑點首,公子近就與語。女問:「寓居何處?」具告之。問:「寓中有人否?」曰:「無。」女云:「妾晚間奉訪,勿使人知。」公子歸,及暮,屏去僮僕。女果至,自言:「小字溫姬。」且云:「妾慕公子風流,故背媼而來。區區之意,願奉終身。」公子亦喜。自此三兩夜輒一至。一夕,冒雨來,入門解去溼衣,罥諸椸上;又脫足上小靴,求公子代去泥塗。遂上床以被自覆。公子視其靴,乃五文新錦,沾濡殆盡,惜之。女曰:「妾非敢以賤物相役,欲使公子知妾之癡於情也。」聽窗外雨聲不止,遂吟曰:「淒風冷雨滿江城。」求公子續之。公子辭以不解。女曰:「公子如此一人,何乃不知風雅!使妾清興消矣!」因勸肄習,公子諾之。往來既頻,僕輩皆知。公子姊夫宋氏,亦世家子,聞之,竊求公子,一見溫姬。公子言之,女必不可。宋隱身僕舍,伺女至,伏窗窺之,顛倒欲狂。急排闥,女起,踰垣而去。宋嚮往甚殷,乃修贄見許媼,指名求之。媼曰:「果有溫姬,但死已久。」宋愕然退,告公子,公子始知為鬼。至夜,因以宋言告女。女曰:「誠然。顧君欲得美女子,妾亦欲得美丈夫。各遂所願足矣,人鬼何論焉?」公子以為然。試畢而歸,女亦從之。他人不見,惟公子見之。至家,寄諸齋中。公子獨宿不歸,父母疑之。女歸寧,始隱以告母,母大驚,戒公子絕之,公子不能聽。父母深以為憂,百術驅之不能去。一日,公子有諭僕帖,置案上,中多錯謬:「椒」訛「菽」,「姜」訛「江」,「可恨」訛「可浪」。女見之,書其後:「何事『可浪』?『花菽生江。』有婿如此,不如為娼!」遂告公子曰:「妾初以公子世家文人,故蒙羞自薦。不圖虛有其表!以貌取人,毋乃為天下笑乎!」言已而沒。公子雖愧恨,猶不知所題,折帖示僕。聞者傳為笑談。

Gia Bình công tử

Gia Bình Mỗ công tử, phong nghi tú mỹ. Niên thập thất bát, nhập quận phó đồng tử thí. Ngẫu quá Hứa xướng chi môn, kiến nội hữu nhị bát lệ nhân, nhân mục chú chi. Nữ vi tiếu điểm đầu, công tử cận tựu dữ ngữ. Nữ vấn: “Ngụ cư hà xứ?” Cụ cáo chi. Vấn: “Ngụ trung hữu nhân phủ?” Viết: “Vô.” Nữ vân: “Thiếp vãn gian phụng phỏng, vật sử nhân tri.” Công tử quy, cập mộ, bính khứ đồng bộc. Nữ quả chí, tự ngôn: “Tiểu tự Ôn Cơ.” Thả vân: “Thiếp mộ công tử phong lưu, cố bội ảo nhi lai. Khu khu chi ý, nguyện phụng chung thân.” Công tử diệc hỷ. Tự thử tam lưỡng dạ triếp nhất chí. Nhất tịch, mạo vũ lai, nhập môn giải khứ thấp y, quyến chư di thượng, hựu thoát túc thượng tiểu ngoa, cầu công tử đại khứ nê đồ. Toại thượng sàng dĩ bị tự phú. Công tử thị kỳ ngoa, nãi ngũ văn tân cẩm, triêm nhu đãi tận, tích chi. Nữ viết: “Thiếp phi cảm dĩ tiện vật tương dịch, dục sử công tử tri thiếp chi si ư tình dã.” Thính song ngoại vũ thanh bất chỉ, toại ngâm viết: “Thê phong lãnh vũ mãn giang thành” cầu công tử tục chi. Công tử từ dĩ bất giải. Nữ viết: “Công tử như thử nhất nhân, hà nãi bất tri phong nhã! Sử thiếp thanh hứng tiêu hỹ!” Nhân khuyên dị tập, công tử nặc chi. Vãng lai ký tần, bộc bối giai tri. Công tử tỉ phu Tống thị, diệc thế gia tử, văn chi, thiết cầu công tử, nhất kiến Ôn Cơ. Công tử ngôn chi, nữ tất bất khả. Tống ẩn thân bộc xá, tý nữ chí, phục song khuy chi, điên đảo dục cuồng. Cấp bài thát, nữ khởi, du viên nhi khứ. Tống hướng vãng thậm ân, nãi tu chí kiến Hứa ảo, chỉ danh cầu chi. Ảo viết: “Quả hữu Ôn Cơ, đãn tử dĩ cửu.” Tống ngạc nhiên thoái, cáo tông tử, công tử thủy tri vi quỷ. Chí dạ, nhân dĩ Tống ngôn cáo nữ. Nữ viết: “Thành nhiên. Cố quân dục đắc mỹ nữ tử, thiếp diệc dục đắc mỹ trượng phu. Các toại sở nguyện túc hỹ, nhân quỷ hà luận yên?” Công tử dĩ vi nhiên. Thí tất nhi quy, nữ diệc tòng chi. Tha nhân bất kiến, duy công tử kiến chi. Chí gia, ký chư trai trung. Công tử độc túc bất quy, phụ mẫu nghi chi. Nữ quy ninh, thủy ẩn dĩ cáo mẫu, mẫu đại kinh, giới công tử tuyệt chi, công tử bất năng thính. Phụ mẫu thâm dĩ vi ưu, bách thuật khu chi bất năng khứ. Nhất nhật, công tử hữu dụ bộc thiếp, trí án thượng, trung đa thác mậu: “tiêu” ngoa “thục”. “khương” ngoa “giang”, “khả hận” ngoa “khả lãng”. Nữ kiến chi, thư kỳ hậu: “Hà sự ‘khả lãng’? ‘Hoa thục sinh giang’. Hữu tế như thử, bất như vi xướng!” Toại cáo công tử viết: “Thiếp sơ dĩ công tử thế gia văn nhân, cố mông tu tự tiến. Bất đồ hư hữu kỳ biểu! Dĩ mạo thủ nhân, vô nãi vi thiên hạ tiếu hồ!” Ngôn dĩ nhi một. Công tử tuy quý hận, do bất tri sở đề, chiết thiếp thị bộc. Văn giả truyền vi đàm tiếu.

Aquinas Institute

For the Study of Sacred Doctrine

力餘軒

Lực Dư Hiên

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Sensus Traditionis

A Website Dedicated to the Sacred Tradition of the Roman Catholic Church

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

henry darragh's blog

tell her for me

Tương Mai Cư Sĩ

Non non nước nước tình tình

The Sacred at Park Place

Bringing Catholic sacred tradition to the neighborhood at Park Place Blvd.

歸源 (Kuiwon)

Classical Chinese Works Written by Korean Authors Translated - 한시•한문 영역 - 漢詩•漢文 英譯