Archive

漢文/Hán văn/Classical Chinese

liaozhai

Gia Bình công tử

tác giả: Bồ Tùng Linh (蒲松龄 , 1640-1715)
dịch giả: Nguyễn Tử Hạ

Gia Bình Mỗ công tử, phong độ tú mỹ. Tuổi trạc mười bảy mười tám, vào quận thi khoa đồng tử. Ngẫu nhiên qua cửa nhà hát mụ Hứa, thấy bên trong có người đẹp tuổi trạc đôi tám. Nhân để mắt nhìn. Nữ lang mỉm cười gật đầu, công tử kéo gần trò chuyện. Nữ lang hỏi: “Ở trọ nơi đâu?” Công tử kể cho nàng nghe. Hỏi: “Trong nhà có người chăng?” Rằng: “Không”. Nữ lang nói: “Thiếp chiều nay kính thăm, chớ cho ai hay.” Công tử về, đến tối, đuổi đi đầy tớ. Nữ lang quả nhiên đến, kể rằng: “Tiểu tự Ôn Cơ”, lại nói, “Thiếp ngưỡng mộ công tử phong lưu, nên giấu mụ mà đến. Chút ý hèn mọn, xin được hầu hạ chàng suốt đời.” Công tử cũng mừng. Từ đó hai ba đêm thường đến một lần. Một hôm, dầm mưa đến, vào cửa cởi bỏ áo ướt, treo áo lên mắc, lại cởi giầy nhỏ trên chân, xin công tử lau sạch bùn lầy. Bèn lên giường lấy chăn trùm mình. Công tử thấy giầy nàng, làm bằng gấm ngũ văn mới, ướt dẫm hết cả, tiếc của. Nữ lang rằng: “Thiếp chẳng dám lấy việc hèn mà sai chàng, chỉ muốn cho công tử biết thiếp si tình đến đâu vậy.” Nghe ngoài song tiếng mưa chẳng ngớt, bèn ngâm rằng: “Gió buồn mưa lạnh khắp giang thành”, xin công tử đọc nối. Công tử từ chối lấy cớ không hiểu thơ. Nữ lang rằng: “Công tử một người như thế, cớ sao chẳng biết phong nhã! Làm thiếp mất thanh hứng rồi!” Nhân khuyên học tập, công tử nghe lời. Đi đi lại lại, đầy tớ đều biết. Anh rể công tử họ Tống, cũng con thế gia, nghe chuyện, lén xin công tử cho gặp Ôn Cơ một lần. Công tử hỏi ý nàng, nữ lang nhất định không chịu. Họ Tống ẩn mình trong nhà đầy tớ, đợi nữ lang đến, nấp bên song nhìn trộm, điên đảo muốn cuồng. Vội đẩy cửa vào, nữ lang trỗi dậy, trèo tường mà đi. Họ Tống mến mộ nồng hậu, bèn sửa lễ vật gặp mụ Hứa, lấy tên tìm nàng. Mụ rằng: “Quả thật có Ôn Cơ, nhưng chết đã lâu.” Họ Tống ngạc nhiên lui, bảo công tử, công tử mới hay nàng là ma. Đến đêm, nhân lấy lời họ Tống hỏi nữ lang. Nữ lang rằng: “Đúng vậy. Thấy chàng muốn được người vợ đẹp, thiếp cũng muốn được người chồng đẹp. Ai nấy rồi thì được như nguyện vậy, luận chi người hay ma?” Công tử lấy làm phải. Thi xong rồi về, nữ lang cũng theo chàng. Người khác chẳng thấy, duy công tử thấy nàng. Đến nhà, gửi trong buồng học. Công tử ở đó ngủ một mình không về, phụ mẫu thấy nghi. Nữ lang quy ninh, mới giấu mà nói mẹ, mẹ cả sợ, răn công tử tuyệt tình, công tử không chịu nghe. Phụ mẫu rất lấy làm lo. Trăm thuật trừ ma không thể đuổi. Một ngày, công tử có giấy dặn đầy tớ, đặt trên bàn, trong đó nhiều chữ sai: chữ “tiêu” nhầm chữ “thục”, chữ “khương” nhầm chữ “giang”, “khả hận” viết nhầm “khả lãng”. Nữ lang thấy giấy, viết trên mặt sau: “Việc chi khả lãng? Hoa thục sinh giang. Có chồng như thế, chẳng bằng đi hát.” Bèn bảo công tử rằng: “Thiếp ban đầu tưởng công tử là thế gia văn nhân, nên quên thẹn tự dâng mình. Chẳng ngờ trong đầu rỗng tuếch. Trông mặt chọn người, chẳng phải làm thiên hạ cười ru?” Nói xong rồi biến. Công tử tuy vừa thẹn vừa giận, vẫn chưa hiểu câu nàng đề, đưa giấy cho đầy tớ. Kẻ nghe được chuyện kể lại mà nói cười.

嘉平公子

嘉平某公子,風儀秀美。年十七八,入郡赴童子試。偶過許娼之門,見內有二八麗人,因目注之。女微笑點首,公子近就與語。女問:「寓居何處?」具告之。問:「寓中有人否?」曰:「無。」女云:「妾晚間奉訪,勿使人知。」公子歸,及暮,屏去僮僕。女果至,自言:「小字溫姬。」且云:「妾慕公子風流,故背媼而來。區區之意,願奉終身。」公子亦喜。自此三兩夜輒一至。一夕,冒雨來,入門解去溼衣,罥諸椸上;又脫足上小靴,求公子代去泥塗。遂上床以被自覆。公子視其靴,乃五文新錦,沾濡殆盡,惜之。女曰:「妾非敢以賤物相役,欲使公子知妾之癡於情也。」聽窗外雨聲不止,遂吟曰:「淒風冷雨滿江城。」求公子續之。公子辭以不解。女曰:「公子如此一人,何乃不知風雅!使妾清興消矣!」因勸肄習,公子諾之。往來既頻,僕輩皆知。公子姊夫宋氏,亦世家子,聞之,竊求公子,一見溫姬。公子言之,女必不可。宋隱身僕舍,伺女至,伏窗窺之,顛倒欲狂。急排闥,女起,踰垣而去。宋嚮往甚殷,乃修贄見許媼,指名求之。媼曰:「果有溫姬,但死已久。」宋愕然退,告公子,公子始知為鬼。至夜,因以宋言告女。女曰:「誠然。顧君欲得美女子,妾亦欲得美丈夫。各遂所願足矣,人鬼何論焉?」公子以為然。試畢而歸,女亦從之。他人不見,惟公子見之。至家,寄諸齋中。公子獨宿不歸,父母疑之。女歸寧,始隱以告母,母大驚,戒公子絕之,公子不能聽。父母深以為憂,百術驅之不能去。一日,公子有諭僕帖,置案上,中多錯謬:「椒」訛「菽」,「姜」訛「江」,「可恨」訛「可浪」。女見之,書其後:「何事『可浪』?『花菽生江。』有婿如此,不如為娼!」遂告公子曰:「妾初以公子世家文人,故蒙羞自薦。不圖虛有其表!以貌取人,毋乃為天下笑乎!」言已而沒。公子雖愧恨,猶不知所題,折帖示僕。聞者傳為笑談。

Gia Bình công tử

Gia Bình Mỗ công tử, phong nghi tú mỹ. Niên thập thất bát, nhập quận phó đồng tử thí. Ngẫu quá Hứa xướng chi môn, kiến nội hữu nhị bát lệ nhân, nhân mục chú chi. Nữ vi tiếu điểm đầu, công tử cận tựu dữ ngữ. Nữ vấn: “Ngụ cư hà xứ?” Cụ cáo chi. Vấn: “Ngụ trung hữu nhân phủ?” Viết: “Vô.” Nữ vân: “Thiếp vãn gian phụng phỏng, vật sử nhân tri.” Công tử quy, cập mộ, bính khứ đồng bộc. Nữ quả chí, tự ngôn: “Tiểu tự Ôn Cơ.” Thả vân: “Thiếp mộ công tử phong lưu, cố bội ảo nhi lai. Khu khu chi ý, nguyện phụng chung thân.” Công tử diệc hỷ. Tự thử tam lưỡng dạ triếp nhất chí. Nhất tịch, mạo vũ lai, nhập môn giải khứ thấp y, quyến chư di thượng, hựu thoát túc thượng tiểu ngoa, cầu công tử đại khứ nê đồ. Toại thượng sàng dĩ bị tự phú. Công tử thị kỳ ngoa, nãi ngũ văn tân cẩm, triêm nhu đãi tận, tích chi. Nữ viết: “Thiếp phi cảm dĩ tiện vật tương dịch, dục sử công tử tri thiếp chi si ư tình dã.” Thính song ngoại vũ thanh bất chỉ, toại ngâm viết: “Thê phong lãnh vũ mãn giang thành” cầu công tử tục chi. Công tử từ dĩ bất giải. Nữ viết: “Công tử như thử nhất nhân, hà nãi bất tri phong nhã! Sử thiếp thanh hứng tiêu hỹ!” Nhân khuyên dị tập, công tử nặc chi. Vãng lai ký tần, bộc bối giai tri. Công tử tỉ phu Tống thị, diệc thế gia tử, văn chi, thiết cầu công tử, nhất kiến Ôn Cơ. Công tử ngôn chi, nữ tất bất khả. Tống ẩn thân bộc xá, tý nữ chí, phục song khuy chi, điên đảo dục cuồng. Cấp bài thát, nữ khởi, du viên nhi khứ. Tống hướng vãng thậm ân, nãi tu chí kiến Hứa ảo, chỉ danh cầu chi. Ảo viết: “Quả hữu Ôn Cơ, đãn tử dĩ cửu.” Tống ngạc nhiên thoái, cáo tông tử, công tử thủy tri vi quỷ. Chí dạ, nhân dĩ Tống ngôn cáo nữ. Nữ viết: “Thành nhiên. Cố quân dục đắc mỹ nữ tử, thiếp diệc dục đắc mỹ trượng phu. Các toại sở nguyện túc hỹ, nhân quỷ hà luận yên?” Công tử dĩ vi nhiên. Thí tất nhi quy, nữ diệc tòng chi. Tha nhân bất kiến, duy công tử kiến chi. Chí gia, ký chư trai trung. Công tử độc túc bất quy, phụ mẫu nghi chi. Nữ quy ninh, thủy ẩn dĩ cáo mẫu, mẫu đại kinh, giới công tử tuyệt chi, công tử bất năng thính. Phụ mẫu thâm dĩ vi ưu, bách thuật khu chi bất năng khứ. Nhất nhật, công tử hữu dụ bộc thiếp, trí án thượng, trung đa thác mậu: “tiêu” ngoa “thục”. “khương” ngoa “giang”, “khả hận” ngoa “khả lãng”. Nữ kiến chi, thư kỳ hậu: “Hà sự ‘khả lãng’? ‘Hoa thục sinh giang’. Hữu tế như thử, bất như vi xướng!” Toại cáo công tử viết: “Thiếp sơ dĩ công tử thế gia văn nhân, cố mông tu tự tiến. Bất đồ hư hữu kỳ biểu! Dĩ mạo thủ nhân, vô nãi vi thiên hạ tiếu hồ!” Ngôn dĩ nhi một. Công tử tuy quý hận, do bất tri sở đề, chiết thiếp thị bộc. Văn giả truyền vi đàm tiếu.

Advertisements

10676126_385711834910432_8908904506230701275_n

Luận Phật cốt biểu

Tác giả: Hàn Dũ (韓愈 , 768-824 A.D.)
Dịch giả: Nguyễn Thụy Đan

Thần mỗ nói: Phật nguyên là một đạo lý của người di rợ mà thôi, từ thời Hậu Hán lưu nhập trung quốc, thượng cổ chưa từng có vậy. Xưa kia Hoàng Đế tại vị một trăm năm, thọ một trăm mười năm, Thiếu Hạo tại vị tám chục năm, thọ một trăm năm; Chuyên Húc tại vị bảy mươi chín năm, thọ chín mươi tám năm. Đế Khốc tại vị bảy chục năm, thọ một trăm lẻ năm năm. Đế Nghiêu tại vị chín mươi tám năm, thọ một trăm mười tám năm. Đế Thuấn đến Vũ, thọ đều một trăm năm. Thời ấy thiên hạ thái bình, trăm họ yên vui già nua. Thế mà trung quốc chưa có Phật vậy.

Sau đó, Ân, Thương cũng thọ trăm năm. Cháu nhà Thương, Thái Mậu tại vị bảy mươi lăm năm, Vũ Đinh tại vị năm mươi chín năm. Thư sử không nói khi các ngài thọ chung, xét niên số các ngài, cũng đều chẳng dưới một trăm năm. Chu Văn vương thọ chín mười bảy năm. Vũ vương thọ chín mươi ba năm, Mục vương tại vị một trăm năm. Thời ấy Phật pháp cũng chưa nhập trung quốc, đâu phải nhân thờ Phật mà đến thế vậy.

Thời Hán Minh đế, mới có Phật pháp, Minh đế tại vị, mới tám chục năm mà thôi. Sau đó, loạn vong tiếp nhau, vận tộ chẳng lâu. Tống, Tề, Lương, Trần, nguyên Nguỵ về sau, thờ Phật dần kính cẩn, niên đại càng ngắn gấp. Duy Lương Vũ đế tại vị bốn mươi tám năm, trước sau ba lần xả thân thí Phật, lễ tế tông miếu, không dùng sinh lao, ban ngày một bữa, ngừng ở rau quả, sau đó cuối cùng bị Hầu Cảnh ép chết đói ở Đài thành. Nước cũng tìm đến diệt vong. Thờ Phật cầu phúc, rồi lại được hoạ. Do đấy mà xem, Phật chẳng đáng thờ, cũng có thể biết vậy.

Cao tổ mới chịu ngôi Tùy, ắt tính dẹp Phật. Bầy tôi bấy giờ, tài thức chẳng sâu, không thể hiểu sâu đạo của tiên vương, điều thích hợp của xưa nay, suy rộng thánh minh, mà cứu khỏi khốn, việc ngài dừng lại, thần luôn hận đấy.

Cúi nghĩ duệ thánh văn vũ hoàng đế bệ hạ, thần thánh anh vũ, mấy trăm nghìn năm tới nay, chưa có sánh kịp. Lúc mới lên ngôi, không cho phép người làm tăng ni, đạo sĩ, lại không cho xây cất chùa chiền. Thần thường lấy làm chí của Cao tổ, tất sẽ hoàn thành dưới tay của bệ hạ. Nay tuy chưa thể làm ngay, há lại buông thả nó, đổi lệnh khiến nó thêm thịnh vậy?

Nay nghe bệ hạ sai quần tăng đón Phật cốt ở Phụng Tường, ngự lầu để xem, khiêng vào đại nội, lại sai các chùa thay nhau đón phụng dưỡng.Thần tuy chí ngu, ắt biết bệ hạ chẳng mê hoặc nơi Phật, tôn thờ thế này, để cầu phúc lành vậy. Chỉ nhân năm được mùa người đều vui, theo lòng của dân, vì sĩ thứ kinh đô sắp đặt cảnh kỳ dị, trò đùa bỡn mà thôi. Đâu có thánh minh như thế, mà lại tin những chuyện thế này sao? Mà trăm họ ngu tối, nếu thấy bệ hạ như vậy, sẽ bảo là thật lòng thờ Phật. Đều nói: Thiên tử đại thánh, còn một lòng kính tin, trăm họ là ai, há lại tiếc thân mạng!” Đốt đỉnh đầu, thiêu ngón tay. Trăm người thành nhóm, cởi áo vất tiền, từ sáng đến tối, bắt chước theo nhau, chỉ sợ trễ giờ, già trẻ bôn ba, bỏ nghề nghiệp bỏ thứ tự, nếu không cấm ngay, từ chùa này qua chùa nọ, ắt có người chặt tay xé mình, lấy làm phụng dưỡng đấy. Thương phong bại tục, truyền ra bốn phương chê cười, chẳng phải chuyện nhỏ vậy.

Xét, Phật nguyên là người di rợ, cùng tiếng nói trung quốc chẳng thông, y phục làm khác, miệng chẳng nói pháp ngôn của tiên vương, mình chẳng bận pháp phục của tiên vương, chẳng biết nghĩa vua tôi, tình cha con. Giả như thân nó đến nay hãy còn, phụng mệnh nước nó, lai triều kinh sư, bệ hạ khoan đãi mà tiếp nó, chẳng qua cho yết kiến một lần, đãi khách một bữa, tặng áo một bộ, phòng vệ mà đuổi về biên giới, không cho hoặc chúng vậy. Huống thân nó chết đã lâu, xương khô nát, nhơ bẩn thừa, sao lại cho vào cung cấm?

Khổng tử rằng: “Kính quỷ thần nhi viễn chi”. Chư hầu thời xưa, đi điếu ở trong nước, còn sai thầy cúng đi trước, lấy đào và chổi mà trừ bất tường, rồi sau đến điếu. Nay, vô cố lấy đồ thối nát, thân đến xem ngắm, thầy cúng không đi trước, đào chổi chẳng dùng đến, bầy tôi chẳng nói lên điều đó sai, ngự sử chẳng nêu ra điều đó trái, thần thật hổ thẹn. Xin lấy xương này đưa người có chức, quẳng nó vào nước lửa. Mãi mãi cắt đứt cỗi rễ, chặt đứt mối nghi của thiên hạ, đoạn tuyệt mê hoặc của đời sau, khiến người thiên hạ, biết việc làm của đại thánh nhân xuất trên tầm thường vạn vạn vậy. Há không thịnh thay? Há không khoái thay? Phật như có thiêng, có thể gây vạ, hễ có tai ương, xin giáng thân thần. Trời cao giám lâm, thần chẳng hối hận. Vô nhiệm cùng cực cảm kích chân thành, kính dâng biểu để nghe.Thần mỗ thật hoảng thật sợ.

論佛骨表

臣某言:伏以佛者,夷狄之一法耳,自後漢時流入中國,上古未嘗有也。昔者黃帝在位百年,年百一十歲;少昊在位八十年,年百歲;顓頊在位七十九年,年九十八歲;帝嚳在位七十年,年百五歲;帝堯在位九十八年,年百一十八歲;帝舜及禹,年皆百歲。此時天下太平,百姓安樂壽考,然而中國未有佛也。其後,殷湯亦年百歲,湯孫太戊在位七十五年,武丁在位五十九年,書史不言其年壽所極,推其年數,蓋亦俱不減百歲,周文王年九十七歲,武王年九十三歲,穆王在位百年。此時佛法亦未入中國,非因事佛而致然也。

漢明帝時,始有佛法,明帝在位,才十八年耳。其後亂亡相繼,運祚不長。宋、齊、梁、陳、元魏以下,事佛漸謹,年代尤促。惟梁武帝在位四十八年,前後三度舍身施佛,宗廟之祭,不用牲牢,晝日一食,止於菜果。其後竟為侯景所逼,餓死台城,國亦尋滅。事佛求福,乃更得禍。由此觀之,佛不足事,亦可知矣。

高祖始受隋禪,則議除之。當時群臣材識不遠,不能深知先王之道、古今之宜,推闡聖明,以救斯弊,其事遂止。臣常恨焉。

伏惟睿聖文武皇帝陛下,神聖英武,數千百年已來,未有倫比。即位之初,即不許度人為僧尼、道士,又不許創立寺觀。臣嚐以為高祖之志 ,必行於陛下之手,今縱未能即行,豈可恣之轉令盛也!

今聞陛下令群僧迎佛骨於鳳翔,禦樓以觀,舁入大內,又令諸寺遞迎供養。臣雖至愚,必知陛下不惑於佛,作此崇奉,以祈福祥也。直以年豐人樂,徇人之心,為京都士庶設詭異之觀,戲玩之具耳。安有聖明若此,而肯信此等事哉!然百姓愚冥,易惑難曉,苟見陛下如此,將謂真心事佛。皆云:「天子大聖,猶一心敬信;百姓何人,豈合更惜身命!」焚頂燒指,百十為群,解衣散錢,自朝至暮,轉相仿效。惟恐後時,老少奔波,棄其業次。若不即加禁遏,更曆諸寺,必有斷臂臠身,以為供養者。傷風敗俗,傳笑四方,非細事也。

夫佛本夷狄之人,與中國言語不通,衣服殊制,口不言先王之法言,身不服先王之法服,不知君臣之義、父子之情。假如其身至今尚在,奉其國命,來朝京師;陛下容而接之,不過宣政一見,禮賓一設,賜衣一襲,衛而出之於境,不令惑眾也。況其身死已久,枯朽之骨,凶穢之餘,豈宜令入宮禁?

孔子曰:「敬鬼神而遠之。」古之諸侯行吊於其國,尚令巫祝先以桃茢祓除不祥,然後進吊。今無故取朽穢之物,親臨觀之,巫祝不先,桃茢不用。群臣不言其非,禦史不舉其失,臣實恥之。乞以此骨付之有司,投諸水火,永絕根本,斷天下之疑,絕後代之惑。使天下之人,知大聖人之所作為,出於尋常萬萬也。豈不盛哉!豈不快哉!佛如有靈,能作禍祟,凡有殃咎,宜加臣身。上天鑒臨,臣不怨悔。無任感激懇悃之至,謹奉表以聞。臣某誠惶誠恐。

Luận Phật cốt biểu

Thần mỗ ngôn: Phục dĩ Phật giả, di địch chi nhất pháp nhĩ, tự Hậu Hán thời lưu nhập trung quốc, thượng cổ vị thường hữu dã. Tích giả Hoàng Đế tại vị bách niên, niên bách nhất thập tuế; Thiếu Hạo tại vị bát thập niên, niên bách tuế; Chuyên Húc tại vị thất thập cửu niên, niên cửu thập bát tuế; Đế Khốc tại vị thất thập niên, niên bách ngũ tuế; Đế Nghiêu tại vị cửu thập bát niên, niên bách nhất thập bát tuế; Đế Thuấn cập Vũ, niên giai bách tuế. Thử thời thiên hạ thái bình, bách tính an lạc thọ khảo, nhiên nhi trung quốc vị hữu phật dã. Kỳ hậu, Ân Thương diệc niên bách tuế, Thương tôn Thái Mậu tại vị thất thập ngũ niên, Vũ Đinh tại vị ngũ thập cửu niên, thư sử bất ngôn kỳ niên thọ sở cực, suy kỳ niên số, cái diệc câu bất giảm bách tuế, Chu Văn vương cửu thập thất tuế, Vũ vương niên cửu thập tam tuế, Mục vương tại vì bách niên. Thử thời Phập pháp diệc vị nhập trung quốc, phi nhân sợ Phật nhi trí nhiên dã.

Hán Minh đế thời, thủy hữu Phập pháp, Minh đế tại vị, tài thập bát niên nhĩ. Kỳ hậu loạn vong tương kế, vận tộ bất trường. Tống, Tề, Lương, Trần, nguyên Ngụy dĩ hạ, sự Phật tiệm cẩn, niên đại vưu xúc. Duy Lương Vũ đế tại vị tứ thập bát niên, tiền hậu tam độ xả thân thí Phật, tông miếu chi tế, bất dụng sinh lao, trú nhật nhất tự, chỉ ư thái quả. Kỳ hậu cánh vi Hầu Cảnh sở bức, ngạ tử Đài thành, quốc diệc tầm diệt. Sự Phật cầu phúc, nãi cánh đắc họa. Do thử quan chi, Phật bất túc sự, diệc khả tri hĩ.

Cao tổ thủy thụ Tùy thiện, tắc nghị trừ chi. Đương thời quần thần tài thức bất viễn, bất năng thâm tri tiên vương chi đạo, cổ kim chi nghi, suy xiển thánh minh, dĩ cứu tư tệ, kỳ sự toại chỉ. Thần thường hận yên.

Phục duy duệ thánh văn vũ hoàng đế bệ hạ, thần thánh anh vũ, sổ thiên bách niên dĩ lai, vị hữu luân tỷ. Tức vị chi sơ, tức bất hứa độ nhân vi tăng ni, đạo sĩ, hựu bất hứa sáng lập tự quán. Thần thường dĩ vi Cao tổ chi chí, tất hành ư bệ hạ chi thủ, kim túng vị năng tức hành, khởi khả tư chi chuyển lệnh thịnh dã!

Kim văn bệ hạ lệnh quần tăng nghênh Phật côt ư Phụng Tường, ngự lâu dĩ quan, dư nhập đại nội, hựu lệnh chư tự đệ nghênh cung dưỡng. Thần tuy chí ngu, tất tri bệ hạ bất hoặc ư Phật, tác thử sùng phụng, dĩ kỳ phúc tường dã. Trực dĩ niên phong nhân lạc, tuần nhân chi tâm, vị kinh đô sĩ thứ thiết quỷ dị chi quan, hý ngoạn chi cụ nhĩ. An hữu thánh minh nhược thử, nhi khẳng tín thử đẳng sự tai! Nhiên bách tính ngu minh, dị hoặc nan hiểu, cẩu kiến bệ hạ như thử, tương vị chân tâm sự Phật. Giai vân: “Thiên tử đại thánh, do nhất tâm kính tín; bách tính hà nhân, khởi hợp cánh tích thân mệnh!” Phần đính thiêu chỉ, bách thập vi quần, giải y tản tiền, tự triêu chí mộ, chuyển tương phảng hiệu. Duy khủng hậu thời, lão thiếu bôn ba, khí kỳ nghiệp thứ. Nhược bất tức gia cấm át, canh lịch chư tự, tất hữu đoạn bích luyến thân, dĩ vi cung dưỡng giả. Thưong phong bại tục, truyền tiếu tứ phương, phi tế sự dã.

Phù Phật bản di địch chi nhân, dữ trung quốc ngôn ngữ bất thông, y phục thù chế, khẩu bất ngôn tiên vương chi pháp ngôn, thân bất phục tiên vương chi pháp phục, bất tri quân thần chi nghĩa, phụ tử chi tình. Giả như kỳ thân chí kim thượng tại, phụng kỳ quốc mệnh, lai triều kinh sư; bệ hạ dung nhi tiếp chi, bất quá tuyên chánh nhất kiến, lễ tân nhất thiết, tứ y nhất tập, vệ nhi xuất chi ư cảnh, bất lệnh hoặc chúng dã. Huống kỳ thân tử dĩ cửu, khô hủ chi cốt, hung uế chi dư, khởi nghi lệnh nhập cung cấm?

Khổng tử viết: “Kính quỷ thần nhi viễn chi.” Cổ chi chư hầu hành điếu ư kỳ quốc, thượng lệnh vu chúc tiên dĩ đào liệt phất trừ bất tường, nhiên hậu tiến điếu. Kim vô cố thủ hủ uế chi vật, thân lâm quan chi, vu chúc bất tiên, đào liệt bất dụng. Quần thần bất ngôn kỳ phi, ngự sử bất cử kỳ thất, thần thực sỉ chi. Khất dĩ thử cốt phó chi hữu ty, đầu chư thủy hỏa, vĩnh tuyệt căn bản, đoạn thiên hạ chi nghi, tuyệt hậu đại chi hoặc. Sử thiên hạ chi nhân, tri đại thánh nhân chi sở tác vi, xuất ư tầm thường vạn vạn dã. Khởi bất thịnh tai! Khởi bất khoái tai! Phật như hữu linh, năng tác họa túy, phàm hữu ương cữu, nghi gia thần thân. Thượng thiên giám lâm, thần bất oán hối. Vô nhiệm cảm kích khẩn khổn chi chí, cẩn phụng biểu dĩ văn. Thần mỗ thành hoảng thành khủng.

chunom

 

Currently, the vast majority of Vietnamese people, both in Vietnam and abroad, are illiterate in reading Chinese and Vietnamese characters. This has led to fairly widespread confusion regarding certain terms such as Hán (漢) and Nôm (喃) when used to describe a written language. Before continuing, it’s necessary to have a proper understanding of the difference between Hán (漢) and Nôm (喃) and their relation to the Vietnamese language.

1. Hán (漢) is used to describe Chinese characters (漢字, Hán tự). The term Hán literature (漢文, Hán văn) is generally used to describe writings in classical Chinese (also called literary Chinese). Classical Chinese, also referred to as wenyan (文言, văn ngôn) by modern sources, is a written language that served as the lingua franca for China, Vietnam, Korea, and Japan until the early 20th century. Two educated persons  from any of these countries would have been able to have a conversation in classical Chinese through writing, literally a “brush-conversation” (筆談, bút đàm).  The role of classical Chinese in East Asia is often compared to that of Latin in Europe. Prior to the 20th century, most Vietnamese literature was written using classical Chinese.

2. Nôm (喃) is used to describe characters derived from Chinese characters (漢字, Hán tự) used to write the Vietnamese language.The history and development of Nôm (喃) characters is so detailed that only a very brief overview can be given here. Because the Vietnamese language is a combination of words taken from Chinese and native Vietnamese words, literature written in Nôm (喃) also contains a large amount of Chinese characters (漢字, Hán tự).

Confusion and misinformation about these terms has spread because today Vietnamese is universally written using a Romanization system first developed by Roman Catholic missionaries to help Europeans learn Vietnamese. This Romanization system, known as the “National language” (國語, quốc ngữ), is not without great merit, but it also has many short-comings and negative influences on Vietnamese language and culture. Perhaps the greatest evil of this system is that it has led to the alienation of Vietnam from the rest of East Asia. Vietnam is an East Asian country with East Asian culture. It belongs in the same category as China, Korea, and Japan. However, because most Vietnamese people are illiterate in reading Chinese characters, the vast shared cultural treasury of the Sinosphere is alien territory to many.

One clear example of this is how translators deal with the names of Korean, Japanese, and occasionally even Chinese names for people and places into Vietnamese. Since both Korea and Japan use Chinese characters for personal names, etc the most logical method for rendering their names into Vietnamese would be to give the Vietnamese pronunciation of the Chinese characters, i.e., the Sino-Vietnamese (漢越, Hán Việt) pronunciation. Instead, most newspapers and news-stations use the romanized Vietnamese writing system (國語, quốc ngữ) to render unpronounceable transliterations of Korean and Japanese names.

As an example of what should be done instead, here are the names of singers belonging to the popular Girls’ Generation group ( 少女時代, Thiếu nữ thời đại) given with their Sino-Vietnamese (漢越, Hán Việt) pronunciation:

Tae-yeon (太妍, Thái Nghiên) – 金泰耎 Kim Thái Nhuyễn (김태연 Kim Tae Yeon)

Jessica – 鄭秀妍 Trịnh Tú Nghiên (정수연 Jung Soo Yeon)

Sunny – 李順圭 Lý Thuận Khuê (이순규 Yi Sun Gyu)

Tiffany – 黃美英 Hoàng Mỹ Anh (황미영 Hwahng Mi Young)

Hyoyeon (孝淵, Hiếu Uyên) – 金孝淵 Kim Hiếu Uyên (김효연 Kim Hyo Yeon)

Yuri (俞利, Dũ Lợi) – 權俞利 Quyền Dũ Lợi (권유리 Gwon Yu Ri)

Sooyoung (秀英, Tú Anh) – 崔秀英 Thôi Tú Anh (최수영 Choe Soo Young)

Yoona (潤娥, Nhuận Nga) – 林潤娥 Lâm Nhuận Nga (임윤아 Im Yoon A)

Seohyun (徐玄, Từ Huyền) – 徐朱玄 Từ Chu Huyền (서주현 Seo Joo Hyun)

 

Notes:

– I have never consciously listened to anything by Girls’ Generation

 

 

 

The Aquinas Institute

For the Study of Sacred Doctrine

力餘軒

Lực Dư Hiên

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Sensus Traditionis

A Website Dedicated to the Sacred Tradition of the Roman Catholic Church

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

henry darragh's blog

tell her for me

Tương Mai Cư Sĩ

Non non nước nước tình tình

The Sacred at Park Place

Bringing Catholic sacred tradition to the neighborhood at Park Place Blvd.

歸源 (Kuiwon)

Classical Chinese Works Written by Korean Authors Translated - 한시•한문 영역 - 漢詩•漢文 英譯