Archive

詞/Từ/Lyrics

nhu mong lenh

Ngô Tỉnh Khâm (吳省欽), tự Xung Chi (沖之) hiệu Bạch Hoa (白華), người tỉnh Giang Tô, đậu tiến-sỹ năm Càn-Long nhị-thập-bát niên. Làm quan đến Tả-Đô Ngự-sử, trứ tác có Bạch Hoa tiền hậu cảo thi-dư (白華前後稿詩餘) hai quyển.

如夢令

庭下丁香初結
已是半年離別
最怕是黃昏
一點孤燈明滅
嗚咽
嗚咽
窗外子規啼月

Như Mộng Lệnh

Đình hạ đinh hương sơ kiết
Dĩ thị bán niên ly biệt
Tối phạ thị hoàng hôn
Nhất điểm cô đăng minh diệt
Ô yết
Ô yết
Song ngoại tử quy đề nguyệt

điệu Như Mộng Lệnh

Sân dưới đinh hương vừa kết
Đã vội nửa năm ly biệt
Sợ nhất lúc hoàng hôn
Một ngọn đèn tàn leo lét
Thảm thiết
Thảm thiết
Ngoài cửa đỗ quyên kêu nguyệt

dịch 2.12.15

lieu

Hạng Hồng Tộ (項鴻祚), tự Liên Sinh (蓮生), nguyên-danh Kế Chương (繼章), đổi tên thành Đình Kỷ (廷紀). Người tỉnh Chiết Giang, năm Đạo Quang thập nhị niên đỗ cử nhân. Trứ tác có Thủy Tiên đình từ (水仙亭詞) hai quyển, Ức Vân từ Giáp Ất Bính Đinh cảo (憶雲詞甲乙丙丁稿) bốn quyển.

綺羅香

簾影移香,
池痕浸綠,
重到藏春朱戶。
小立牆陰,
猶認舊題詩句。
記西園撲蝶歸來,
又南浦片帆初去。
料如今塵滿窗紗,
佳期回首碧雲暮。

華年渾似流水,
還怕啼鵑催老,
亂鶯無主。
一樣東風,
吹送兩邊愁緒。
正畫欄紅藥飄殘,
是前度玉人憑處。
賸空庭煙草淒迷,
黃昏吹暗雨。

Ỷ La Hương

Liêm ảnh di hương
Trì ngân tẩm lục
Trùng đáo tàng xuân chu hộ
Tiểu lập tường âm
Do nhận cựu đề thi cú
Ký tây viên, phác điệp quy lai
Hựu nam phố, phiến phàm sơ khứ
Liệu như kim, trần mãn song sa
Giai kỳ hồi thủ bích vân mộ

Niên hoa hồn tự lưu thuỷ
Hoàn phạ đề quyên thôi lão
Loạn oanh vô chủ
Nhất dạng đông phong
Xuy tống lưỡng biên sầu tự
Chính hoạ lan, hồng dược phiêu tàn
Thị tiền độ, ngọc nhân bằng xứ
Thặng không đình, yên thảo thê mê
Hoàng hôn xuy ám vũ

điệu Ỷ La Hương

Rèm kín phai hương
Bờ ao thấm biếc
Về đến xuân im bên ngõ
Dừng bước sau tường
Còn thấy dấu thơ đề cũ
Nhớ tây viên, bướm lượn bay về
Lại nam phố, cánh buồm theo gió
Ngỡ đến nay, bụi bám song sa
Ngoảnh đầu mây biếc bóng chiều đổ

Xuân xanh như thể nước chảy
Càng sợ quyên kêu vội giục
Chơ vơ oanh rối
Một trận đông phong
Thổi khắp chốn nao sầu úa
Ngay hoạ lan, tan tác hoa hồng
Thủa xưa ấy, mỹ nhân cùng tựa
Đầy sân vắng, khói cỏ hiu hiu
Hoàng hôn mưa ngập ngụa

dịch 2.12.15

ling

Li Ch’ing-chao (李清照 , 1084-~1151) was a famous female poet from the Song dynasty (宋朝 , 960-1279). She lived a turbulent life and met with the praise and criticism of many scholars, both of her generation and later generations. Born into an affluent scholar family, she gained fame for her skill in poetry even before her marriage. She was initially married to a scholar from another affluent family with whom she had a happy marriage and shared many poetic and artistic interests. However, due to the turbulent times and the continuing war between the Song dynasty and the barbarian Jurchen tribes, she and her husband had to flee south along with huge numbers of other refugees. Her husband passed away soon after their flight to Nanjing (南京 , Nam Kinh). According to some sources, she re-married and subsequently divorced, extremely unbecoming behavior to more prudish Confucians. Her lyric poetry (詞 , từ) is marked by its sensitive musicality and high levels of refinement.

憶秦娥

臨高閣
亂山平野煙光薄
煙光薄
棲鴉歸後
暮天聞角

斷香殘香情懷惡
西風催襯梧桐落
梧桐落
又還秋色
又還寂寞

Ức Tần Nga

Lâm cao các
Loạn sơn bình dã yên quang bạc
Yên quang bạc
Thê nha quy hậu
Mộ thiên văn giác

Đoạn hương tàn hương tình hoài ác
Tây phong thôi sấn ngô đồng lạc
Ngô đồng lạc
Hựu hoàn thu sắc
Hựu hoàn tịch mịch

To the tune of “Yi Chin O”

Gazing down from a high tower
Jagged mountains, flat plains, thin veils of mist
Thin veils of mist
After the crows have returned to roost
Horns blast in the darkening sky

Puffs of fragrance, dying fragrance, the heart’s feelings are cruel
In the West wind the Wu’tong leaves fall
Wu’tong leaves fall
Once again the colour of autumn
Once again desolate silence

Notes:

-Horns were blown at evening and various parts of the night/early morning to mark the passage of time

-Vietnamese scholar and author, Trần Quang Đức (陳光德 , 1985 – ), courtesy name (字 , tự) Thí Phổ (施普), pen-name (號 , hiệu) Vân Trai (雲齋) has translated this lyric into Vietnamese:

Nom lầu gác
Núi giăng nội trải hơi chiều lạt
Hơi chiều lạt
Quạ về nương đậu
Tù và xao xác

Hương thưa hương tàn tình đời ác
Gió tây lay bứt ngô đồng rạc
Ngô đồng rạc
Về đâu thu sắc
Người đâu trầm mặc

Dao_Tan

EDIT: It has been brought to my attention that this lyric was not written by Đào Tấn. I have been basing my translations/annotations of Đào Tấn’s lyrics on a book published several decades ago. I noticed that some of the lyrics attributed to him in this book were actually lyrics from other authors. After making this post, a friend pointed out that the researchers that compiled that book were mistaken in attributing these lyrics to Đào Tấn. Đào Tấn compiled a collection of lyrics from various dynasties, possibly to recycle in his operas. However, the compilers of this book mistakenly thought that this collection, titled Mộng Mai lyric collection (夢梅詞錄 , Mộng Mai từ lục) was a collection of Đào Tấn’s compositions. This type of mistaken attribution was actually fairly common before the information age where these issues can be researched with ease. This lyric to the tune of “Ju meng ling” was actually written by a Song dynasty author, Wu Chien (吳潛  Ngô Tiềm , 1195-1262).

Đào Tấn (陶晉 , 1845-1907), courtesy name (字, tự) Chỉ Thúc (止叔) was an Nguyễn dynasty official, poet, and arranger of classical Vietnamese opera. Several of his poetic compositions have previously been covered on this blog. The Festival of Pure Light (清明節 , Thanh Minh tiết) is a festival day traditionally observed in Vietnam, China, Korea, and Japan. One important observance associated with this festival is the visiting of ancestral burial grounds to sweep clean the tombs of one’s forefathers (掃墓 , tảo mộ). Each year the date of the festival is determined by the Spring Equinox; this year the festival recently passed on the 5th of April. Though this festival is not considered an official holiday in modern Vietnam, there are many poems that reference its importance in Vietnamese culture.

如夢令

插遍門前楊柳
又是清明時候
歲月不饒人
鬢影星星知否
知否
知否
且盡一杯春酒

Như mộng lệnh

Sáp biến môn tiền dương liễu
Hựu thị Thanh Minh thời hậu
Tuế nguyệt bất nhiêu nhân
Mấn ảnh tinh tinh tri phủ
Tri phủ
Tri phủ
Thả tận nhất bôi xuân tửu

To the tune of “Ju meng ling”

The front door is covered with willows
Once again it is time for the Pure Light festival
Years and months have no mercy for men
My hair has become speckled with gray, don’t you know?
Don’t you know?
Don’t you know?
Let us finish this goblet of spring wine

Notes-

This lyric was translated into Vietnamese by poet Ngô Xuân Diệu (吳春妙 , 1916-1985):

Trước cửa cắm đầy liễu biếc
Lại đã Thanh Minh sang tiết
Năm tháng chẳng tha người
Ánh tóc bạc rồi có biết
Có biết
Có biết
Cạn một chén xuân cho hết

H6_DNDZ.jpg.ashx

夜遊宮

雨過危樓獨倚
漸日暮
東風千里
幾度征衫遍滴淚
空回想
阮王業
今已矣

復辟還無計
對殘陽
恨吞天地
千古忠良盡土子
愧男兒
壯心在
成何事

Dạ du cung

Vũ quá nguy lâu độc ỷ
Tiệm nhật mộ
Đông phong thiên lý
Kỷ độ chinh sam biến trích lụy
Không hồi tưởng
Nguyễn vương nghiệp
Kim dĩ hỹ

Phục bích hoàn vô kế
Đối tàn dương
Hận thôn thiên địa
Thiên cổ trung lương tận thổ tử
Quý nam nhi
Tráng tâm tại
Thành hà sự

To the tune of “Yeh you gong

Rain passes, precipitous tower, leaning alone
Gradually darkening sky
East wind across a thousand miles
How many times have a wanderer’s robes been soaked with tears
Remembering in vain
the achievements of the Nguyen emperors
Now vanished

There is no way to restore the old order
Facing the dying sun
My rage swallows heaven and earth
Loyal and virtuous men of ages past have all turned to dust
I am ashamed to be a man
Still with heroic aspirations
Having achieved nothing

Notes:

I translated this roughly into Vietnamese from the original Chinese:

theo điệu “Dạ Du Cung”

Mưa dứt lầu cao đứng tựa
Dần bóng xế
Gió đông ngàn dặm
Bao phen áo khách ướt dẫm lệ
Luống nhớ về
Nghiệp vua Nguyễn
Nay mất sạch

Phục bích không còn kế
Ngắm chiều tàn
Hận nuốt trời đất
Tôi trung ngàn xưa thảy tro bụi
Thẹn làm trai
Chí lớn còn
Được việc gì

thầy hưng

Từ (詞) là một loại thi ca cổ điển. Thoạt đầu chỉ là lời hát để phối hợp với âm nhạc cho các ca nhi hát xướng trong buổi yến tiệc, v.v. Về sau, trở thành một thể thơ đường đường chính chính mang phong cách văn vẻ bác học. Từ còn có thể gọi là: khúc (曲), ca khúc (歌曲), khúc tử từ (曲子詞), trường đoản cú (長短句), hoặc thi dư (詩餘). Từ thịnh vào đời Tống (bởi thế người ta hay nói: “Đường thi Tống từ” 唐詩宋詞), suy vào đời Minh, tái hưng vào đời Thanh. Đến thời cận đại, vẫn có một số người làm từ, trong đó có cả ông Mao Trạch Đông (毛澤東 , 1893-1976). Ở nước ta, từ cũng đã có từ lâu. Triều Đinh, có Khuông Việt thiền sư (匡越禪師 , 933-1011), tục danh Ngô Chân Lưu (吳真流). Khi tiễn sứ thần Lý Giác (李覺 ?-?) nhà Tống về nước, thiền sư làm một bài từ theo điệu Nguyễn lang quy (阮郎歸). Sau đó, Lê mạt văn sĩ Phạm Thái (范泰 , 1777-1813), trong truyện Sơ Kính Tân Trang (梳鏡新裝), có viết vài bài từ bằng tiếng Việt. Triều Nguyễn có Tùng Thiện vương (從善王 , 1819-1870) nổi tiếng làm từ tuyệt diệu và cụ Đào Tấn (陶晉 , 1845-1907), nhà viết tuồng cũng rất giỏi từ. Đến tiền bán thế kỷ XX, những kẻ đọc sách vẫn thích làm từ, trên báo Nam Phong Tạp Chí (南風雜誌) có đăng từ của vài người. Bản thân tôi cũng rất yêu đọc, viết, và dịch từ; thậm chí hơn cả thơ Đường vậy.

Vừa rồi, thừa nhàn, tôi bái kiến thầy tôi là cụ Đàm Quang Hưng (譚光興), và cùng ngài dịch vài bài từ của ông Nạp Lan Tính Đức (納蘭性德 , 1655-1685), tự Dung Nhược (容若), một từ nhân nổi tiếng đời Thanh. Thầy trò chúng tôi dịch sang tiếng Việt vẫn giữ câu ngắn dài, số chữ, vần bằng trắc, v.v. của nguyên văn Hán văn nên gọi là dịch “nguyên điệu” (mỗi điệu từ được quy định nghiêm cách số chữ, câu ngắn dài, vần bằng trắc, v.v.) Riêng hai bài Bồ tát man và Thanh bình lạc đã được Châu Hải Đường tiên sinh phủ chính vài chữ.

夢江南

昏鴉盡,
小立恨因誰 ?
急雪乍翻香閣絮,
輕風吹到膽瓶梅,
心字已成灰。

Mộng Giang Nam

Hôn nha tận,
Tiểu lập hận nhân thùy?
Cấp tuyết sạ phiên hương các nhứ,
Khinh phong xuy đáo đảm bình mai,
Tâm tự dĩ thành hôi.

điệu Mộng Giang Nam

Đàn quạ khuất,
Chiều đứng hận vì ai?
Dồn dập tuyết rơi che gác kín
Hắt hiu gió thoảng thổi bình mai
Hương thắp đã tro rồi.

菩薩蠻

蕭蕭幾葉風兼雨,
離人偏識長更苦。
欹枕數秋天,
蟾蜍下早弦。

夜寒驚被薄,
淚與燈花落。
無處不傷心,
輕塵在玉琴。

Bồ tát man

Tiêu tiêu kỷ diệp phong kiêm vũ
Ly nhân thiên thức trường canh khổ
Khi chẩm sổ thu thiên
Thiềm thừ hạ tảo huyền

Dạ hàn kinh bị bạc
Lệ dữ đăng hoa lạc
Vô xứ bất thương tâm
Khinh trần tại ngọc cầm

điệu Bồ tát man

Xác xơ mấy lá mưa cùng gió
Canh dài khổ muộn người xa rõ
Tựa gối đếm ngày trôi
Trăng thu đầu tháng soi

Chăn đơn ghê tối rét
Lệ nhỏ đèn leo lét
Đâu chẳng chốn thương tâm
Bụi mờ phủ ngọc cầm

清平樂

風鬟雨鬢,
偏是來無准。
倦倚玉蘭看月暈,
容易語低香近。

軟風吹過窗紗,
心期便隔天涯。
從此傷春傷別,
黃昏只對梨花。

Thanh bình lạc

Phong hoàn vũ tấn,
Thiên thị lai vô chuẩn.
Quyện ỷ ngọc lan khan nguyệt vựng
Dung dị ngữ đê hương cận.

Nhuyễn phong xuy quá song sa,
Tâm kỳ tiện cách thiên nha.
Tòng thử thương xuân thương biệt,
Hoàng hôn chỉ đối lê hoa.

điệu Thanh bình lạc

Tóc pha mưa gió
Lê bước còn đây đó
Mỏi tựa lan can vầng nguyệt tỏ
Hương ngát thì thầm to nhỏ

Gió ấm nhẹ thoảng song sa
Tương tư vẫn cách trời xa
Từ đó thương xuân thương biệt
Hoàng hôn chỉ ngắm lê hoa

10429221_1443816625880617_5763813779598611279_n

念奴嬌

更深山靜
幾回鄉夢斷
布衾如鐵
想得古今桑海變
消盡許多豪傑
周道倭遲
漢風日異
蕭索皇陵闕
更堪回首
枉教悲慨義烈

夜永幽室寥寥
當爐攜卷
桌燈明還滅
報國殲仇心未已
頭白金山霏雪
身老遐方
怒沖霄漢
何日迴南越
江山如昨
掃除胡虜餘孽

Niệm Nô Kiều

Canh thâm sơn tĩnh
Kỷ hồi hương mộng đoạn
Bố khâm như thiết
Tưởng đắc cổ kim tang hải biến
Tiêu tận hứa đa hào kiệt
Chu đạo uy trì
Hán phong nhật dị
Tiêu sách hoàng lăng khuyết
Cánh kham hồi thủ
Uổng giao bi khái nghĩa liệt

Dạ vĩnh u thất liêu liêu
Đương lô huề quyển
Trác đăng minh hoàn diệt
Báo quốc tiêm cừu tâm vị dĩ
Đầu bạch Kim Sơn phi tuyết
Thân lão hà phương
Nộ xung tiêu hán
Hà nhật hồi Nam Việt
Giang sơn như tạc
Tảo trừ Hồ lỗ dư nghiệt

To the tune of “Nian nu chi’ao”

The watch grows deep, the mountains are still
How many times have homesick dreams been shattered
The cloth blanket is cold like iron
Reflecting on changes of past and present
How many heroes have been completely erased
The road to Chou is long and winding
The Han customs daily become more alien
The imperial graves are bleak and desolate
How can one bear to look back
In vain, inflaming my sad anger with righteous fury

The night goes on forever, the dark room still and silent
Facing the stove, I hold a book
On the table, a lamp flickers, now bright now dark
My desire to avenge the country and slaugther the enemy are not yet extinguished
But my hair has grown white, like the flying snow of Kim Sơn
Though my  body grows old in a distant land
My fury pierces through the high heavens
When will I return to Nam Việt
The countryside still the same as before
And wipe clean the remaining evil barbarians

Notes:

-Nian nu chi’ao (念奴嬌 , Niệm Nô Kiều), the name of a lyric meter (詞牌 , từ bài)

– “The road to Chou is long and winding” (周道倭遲 , Chu đạo uy trì) is a reference to a poem from the Classic of Songs (詩經 , Thi kinh):

四牡騑騑
周道倭遲
豈不懷歸
王事靡盬
我心傷悲

Tứ mẫu phi phi
Chu đạo uy trì
Khởi bất hoài quy
Vương sự mỹ cổ
Ngã tâm thương bi

James Legge translates:

My four steeds advanced without stopping;
The way from Zhou was winding and tedious.
Did I not have the wish to return?
But the king’s business was not to be slackly performed;
And my heart was wounded with sadness.

– “Han customs” (漢風 , Hán phong) refers to the culture and customs of the Vietnamese people. Before the twentieth century, the terms  Hán (漢) and Hoa (華) did not carry racial connotations referring specifically to “Chinese” people. Official documents written during the Nguyen dynasty refer to the Vietnamese people as Han people (漢民, Hán dân) and at various times in the past, the Vietnamese have described Vietnam as the “middle kingdom” (中國 , trung quốc), a term which today is associated only with mainland China.

 – Nam Việt (南越) is another name for Vietnam

– “lingering evil” (餘孽 , dư nghiệt) literally refers to a lingering evil presence or element, it can also refer to evil people

– This poem has been kindly translated into Vietnamese by the scholar and author, Trần Quang Đức (陳光德 , 1985 – ), courtesy name (字 , tự) Thí Phổ (施普),  pen-name (號 , hiệu) Vân Trai (雲齋):

Canh khuya núi lặng
Mộng quê bao bận đứt
Chăn mền như sắt
Ngẫm chuyện bể dâu phen mới cũ
Vùi dập biết bao hào kiệt
Tục Hán lạ lùng
Đường Chu xa lắc
Hoang lạnh lăng vua khuất
Ngoảnh nhìn đâu nỡ
Uổng xui buồn giận bứt rứt

Đêm trường buồng tối đìu hiu
Bên lò cầm sách
Đèn bàn cháy leo lét
Báo quốc diệt thù lòng vẫn bận
Đầu bạc Kim Sơn giăng tuyết
Già cỗi phương xa
Giận xông trời thẳm
Nao thuở về Nam Việt
Non sông như trước
Quét sạch giặc hồ dư nghiệt

Nguyễn Thụy Đan

Văn Học ~ Xã Hội ~ Tông Giáo

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Sensus Traditionis

A Website Dedicated to the Sacred Tradition of the Roman Catholic Church

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

henry darragh's blog

tell her for me

Tương Mai Cư Sĩ

Non non nước nước tình tình

The Sacred at Park Place

Bringing Catholic sacred tradition to the neighborhood at Park Place Blvd.

歸源 (Kuiwon)

Classical Chinese Works Written by Korean Authors Translated - 한시•한문 영역 - 漢詩•漢文 英譯